Thứ Ba, 11 tháng 2, 2020

10. CHỈ CÓ LỄ XUẤT GIA

10. CHỈ CÓ LỄ XUẤT GIA LÀ HƠN CẢ
Trung Hưng Bửu Tòa (Đà Nẵng)
ngày 06-02 Kỷ Hợi (Thứ Bảy 14-3-1959)
TÁI CẦU
Mẹ mừng các con.
THI
VÔ vi thanh tịnh nhẹ lòng con
CỰC nhọc quả công gắng chí bòn ([1])
TỪ thuở khai thiên nay một hội
TÔN ty ([2]) em chị giới quy tròn.
Mẹ lấy làm vui, được trông vào lòng mỗi con thấy nhiệt thành nên hôm nay đông đủ xa gần đều có mặt. Còn gì tốt đẹp hơn. Đó là của lễ ([3]) dâng cho Thầy rất nên quý trọng.
Ngày này cũng như bao ngày về sau, nếu được mỗi lần Mẹ đến, các con có những buổi lễ long trọng nầy đón tiếp, thì lo gì ân phước không đến, quyền pháp không trao.
Các lễ long trọng chỉ có lễ xuất gia là hơn cả.([4]) Xuất gia để tìm lấy một nguồn sống êm đềm, một cảnh đời vinh quang, chân hạnh phúc, rồi đưa nhân sanh đến cùng chung hưởng cái lạc thú vô sinh bình đẳng ấy. Loài người thoát khỏi oan trái, khổ đau.
Không phải xuất gia để tránh cái bổn phận làm người trong xã hội, làm con trong gia đình, làm dân của một nước, mà cũng không phải bị tình duyên bạc đãi, thất vọng với nỗi nọ điều kia. Mà xuất gia với một trách nhiệm tương lai giải phóng nhân quần ra ngoài ảo vọng cạnh tranh khổ đau trong trường thế sự. Thế thì xuất gia đầy thơ mộng yêu đương, đầy nhiệt tâm độ thế. Có xuất gia mới được lẽ đạo bao hàm, xô thành kiến chật hẹp, dẹp bản ngã thấp hèn, bỏ tự tư ([5]) tham dục, ngoài ái ân tình cảm nhỏ nhen, để lòng mình không một chướng ngại ngăn che, một mối trái oan nào ràng buộc. Thân được tự do, tâm được sáng suốt, thì làm việc mới minh chính,([6]) lời nói mới chân thật, phán đoán được công bình.
Người giải thoát chưa nói là Thần Thánh đi nữa, lòng cũng chứng đến cao đẳng linh thông. Vì vậy mà phần thưởng trên Thiên Đình chỉ dành cho người giải thoát hơn cả.
Người giải thoát là đại hùng ([7]) chiến thắng ma nghiệp, can đảm hơn cả, mãnh lực vô cùng. Thật thế, chỉ có hàng giải thoát mới không bị nô lệ cho ma danh quỷ lợi, ái ân yêu tà. Người giải thoát không hẹp chật tình thương, không nhỏ nhen sự sống, không ích kỷ hạnh phúc riêng mình, mà đứng ngoài thế gian, lo cho thế gian những phần hy vọng, không con ràng chồng buộc, không lợi khiến danh sai. Ở trần muôn kẻ mất tự do mà chỉ mình thong dong tiêu nhàn,([8]) không bị một vật gì ngăn trở, thì người giải thoát không hơn sao được?
Thử hỏi, ai dưới thế nầy không đắm sắc mê duyên, say tình luyến lợi? Con con cháu cháu, lắm phải tồi tàn. Con mình sanh, công mình nuôi, dạy khôn chỉ khéo, đổ sức trút thần vào xây đắp nó. Lẽ ra nó phải hết phận đền bù. Thế mà dưới trần mấy ai ngưỡng lên, mà bao nhiêu đều trút xuống. Bởi thương xuống mà phạm tội bất hiếu bất nhân. Cha mẹ đâu bằng con. Ông bà đâu hơn cháu.
Ôi, loạn nghịch đạo lý nên gây biết bao nhiêu oan trái trả vay. Nợ ấy cấu hợp ([9]) còn nhiều thì tử sanh luân hồi mãi mãi. Đời nay nói nhơn đạo,([10]) chưa mấy người biết trung biết hiếu. Vì thế mà luân thường ([11]) sụp đổ. Đã sụp đổ, con người vụ lợi ([12]) quên nghĩa, nên cần phải xây dựng đời, lập nên thế đạo lành mạnh.
 Muốn có nền thế đạo lành mạnh thì ai là người phải lo đóng góp, đương đầu việc nầy? Ai cũng bận lo cho thân mình, con cháu mình, vợ chồng mình, thì việc đời tới đâu hay đó. Suy đổ rồi. Nguy cập đến rồi. Nên gánh nợ quần sinh ([13]) thì chỉ có người rảnh thân mới làm được, không nhà mới lo được. Vì vậy mà nền đạo cứu đời đòi hỏi kẻ giáo sĩ là người xuất gia.
Người xuất gia có hai hạng. Hạng có gia đình rồi, vợ con rồi, mà đành đoạn cắt mối thân ái, phế cả lợi danh vì tiền đ([14]) nhân loại mà lên đường hành đạo. Hạng nầy cũng anh hùng có gan. Nhưng hạng đồng chơn ([15]) chưa nhuốm mùi đời là xứng đáng. Vì ai đến đây mà không nhiễm? Kẻ bị nhiễm mà biết cởi mở cũng ít người. Vì vậy, trong nền đạo hai hạng nầy làm quân khu tiền phong, an bang tế thế. Đã được danh dự nhất trong đời, dù chưa có công đức với chánh pháp, nhơn sanh, lúc chung liễu cũng chứng được ngũ đẳng linh thần, huống là mang một sứ mạng,([16]) có một trách nhiệm, lòng lại giác ngộ, về ngôi trên cửu phẩm cũng được dự phần.
Có một điều Mẹ lo: Nguyện chưa quyết, chí chưa lập, tình ý còn ngóng đó trông kia, ngoài thì lành lẽ trơn tru, mà trong lòng bẩn hôi chất chứa. Nếu không dốc tình đoạn tuyệt, thì lâu mau nó cũng kéo tới trì lui, đời con mãi lẩn quẩn không ra khỏi vòng oan khiên ([17]) nghiệp chướng,([18]) tối tăm phiền não. Con phải có gan. Tuy đau nhưng chỉ đau một hồi, chứ để mãi thì liên tiếp chập chồng khốn khổ. Về Đoàn,([19]) sống tập đoàn, các con nên bỏ hẳn cái thói nữ nhi thường tình,([20]) phụ nhơn nan hóa ([21]) mà lấy lòng vô tư ([22]) ăn ở với nhau. Đừng hẹp chật,([23]) ganh tương ([24]) rồi đi đến ngày tan vỡ.
Mẹ cũng cho các con biết rằng số đã xuất gia nầy một ngày kia không phải được tròn vẹn. Nhưng lòng từ bi độ được bước nào mừng bước nấy. Các con cố gắng và cẩn thận giữ mình, nên luôn luôn cầu nguyện.
Mẹ cầu xin Lý Bạch lập cho con một nhà tu, vừa luyện trí quy thần, vừa chế ngự cảm tình, ngăn phần tư dục.([25]) Nên tại tu xá ([26]) cần đòi hỏi có được một số giáo sĩ để xây dựng Hội Thánh Nữ Phái. Nên mở một kỳ học tập đủ các khoa học,([27]) chính trị học... để mở đường trí thức cho các con, ổn định phần tâm linh, chế kiềm bớt tư dục. Rồi đây con lên đường hành đạo lập công, lượm lặt ít nhiều nhơn duyên trong quần chúng.
(. . .)
Phê y tâm nguyện trẻ mong cầu
Chuẩn tắc ([28]) nơi đây chớ nhắm đâu
Nữ hạnh quyết tâm lo lánh tục
Đoàn viên ([29]) dốc chí sự đương đầu
Giải mê sanh chúng toan tu học
Thoát khỏi trần hồng phải tựa nhau
Thành bại đứng ngoài toan giải quyết
Lập nền phước huệ ([30]) nhớ cho sâu.
(. . .)
Thôi, Mẹ ban ơn lành mỗi con. Mẹ thăng.


([1]) bòn (picking every smallest bit): Bòn mót, nhặt nhạnh từng chút mảy mún, không bỏ sót.
([2]) tôn ty 尊卑 (the order of rank or seniority): Trật tự có trên có dưới, có lớn có nhỏ.
([3]) của lễ (tế phẩm : offerings): Lễ phẩm, những thức dâng lên các Đấng thiêng liêng
([4]) Mượn các chữ in đậm tạm đặt nhan đề cho bài thánh giáo này.
([5]) tự tư: Nói đủ là tự tư tự lợi 自私自利 (everything for self and selfish profit; with no regard for others; selfish). Mưu đồ lợi ích cho riêng mình.
([6]) minh chính 明正 (straightforward): Trong sáng và ngay thẳng.
([7]) đại hùng 大雄 (great hero): Bậc anh hùng vĩ đại (vì đã chiến thắng chính mình). Điện thờ Đức Thích Ca được gọi là Đại Hùng Bửu Điện 大雄寶殿 (Hall of Great Hero).
([8]) tiêu nhàn 蕭閒 (free and at ease): Tiêu sái 蕭灑 (không bị trói buộc) và nhàn nhã.
([9]) cấu hợp 構合 (making up together): Kết hợp với nhau.
([10]) nhơn đạo 人道 (the way of man): Đạo làm người.
([11]) luân thường 倫常 (proper human relationships; both the five relationships [i.e., government-citizens, parents-children, sibling-sibling, husband-wife, friend-friend] and the five constant virtues [i.e., benevolence, righteousness, propriety, wisdom, sincerity]): Những mối quan hệ đúng đắn con người phải luôn noi theo, gồm có ngũ luân (năm mối quan hệ giữa: nhà nước và công dân, cha mẹ và con cái, vợ chồng, anh chị em, bạn bè) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín).
([12]) vụ lợi 務利 (just seeking benefits for oneself): Chỉ mưu cầu lợi ích cho bản thân.
([13]) quần sinh (humans): Nhân sinh, loài người, chúng sinh.
([14]) tiền đồ 前途 (prospects, future): Con đường phía trước, tương lai.
([15]) đồng chơn 童真 (unmarried, virgin): Chưa kết hôn, trinh bạch.
([16]) sứ mạng 使命 (mission): Lệnh sai phái và phải làm xong.
([17]) oan khiên 冤牽 (predestined enemy; injustice leading to sin): Oan nghiệp 冤業, oan nghiệt 冤孽, những nợ nần, thù oán từ kiếp trước, sang kiếp này chúng đòi người mắc nợ phải trả; những điều ngang trái dẫn dắt đến chỗ tội lỗi).
([18]) nghiệp chướng 業障 (karmic obstacle): Chướng ngại, trở ngại phải nhận lãnh do trước kia đã tạo ra nghiệp xấu. Điển tích: Chu Lợi Bàn Đặc (Cūlapanthaka) là một đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca. Trước khi đắc quả A La Hán, ông đần độn đến nỗi học bốn tháng vẫn không thuộc một bài kệ ngắn. Chướng ngại này khiến ông tu hành kém cỏi. Nguyên do, trong tiền kiếp ông rất thông minh, nhưng đã tạo nghiệp xấu khi chế nhạo một thầy tu kém trí nhớ.
([19]) về Đoàn: Về sống chung trong Nữ Đoàn Giải Thoát.
([20]) nữ nhi thường tình 女兒常情 (women’s common feelings): Lòng dạ hay tình cảm thường có của phần đông phụ nữ.
([21]) phụ nhơn nan hóa 婦人難化 (women’s transformation difficulty): Sự khó sửa đổi tánh nết của đàn bà.
([22]) vô tư 無私(unbiased, impartial): Không có lòng riêng, không thiên vị, không thành kiến.
([23]) hẹp chật: Hẹp hòi.
([24]) ganh tương (envious): Tranh cạnh, so bì, ghen tỵ.
([25]) tư dục 私欲 (selfish desire): Ham muốn ích kỷ, riêng tư.
([26]) tu xá 修舍: Nhà tu cho nam (monastery) hay nữ (convent).
([27]) khoa học (khoa : branch of study): Môn học, ngành học.
([28]) chuẩn tắc 準則 (criterion, norm, standard): Nguyên tắc chuẩn mực.
([29]) đoàn viên 團員 (member): Thành viên Nữ Đoàn Giải Thoát.
([30]) nền phước huệ: Nền móng tạo lập bằng cách vừa làm công quả để giải nghiệp (tu phước) và vừa tịnh luyện (tu huệ).
Huệ Khải chú thích
Lê Anh Minh hiệu đính
Hà Nội: Nxb Hồng Đức 2020