Thứ Ba, 11 tháng 2, 2020

6. CON ĐƯỜNG SỨ MẠNG

6. CON ĐƯỜNG SỨ MẠNG TRONG BUỔI TAM KỲ ĐẠI XÁ CỦA ĐỨC CHÍ TÔN
Trung Hưng Bửu Tòa (Đà Nẵng)
ngày 16-01 Kỷ Hợi (Thứ Hai 23-02-1959)
THI
          ĐÔNG độ ([1]) chung xây cảnh đại đồng
          PHƯƠNG ([2]) nào cũng được phước Cha chung ([3])
          LÃO khuyên chư sĩ ([4]) mau hồi tỉnh ([5])
          TỔ nghiệp hoàn thành phải gắng công.([6])
Lão chào chư Thiên ân.([7]) Chào chư đạo tâm nam nữ.
Giờ nầy Lão có lời cùng chư phận sự trong bộ máy Minh Tra. Toàn chư chức vụ phải nhận thấu ([8]) một con đường sứ mạng trong buổi Tam Kỳ đại xá của Chí Tôn.([9])
Người ([10]) đã đến cùng chúng sanh bằng sự yêu thương, quyết đem con cái của Người trở lại con đường bình yên trong sự sống đời đời, chung một khối bình đẳng bác ái, không để một ai tách ngoài thánh thể ([11]) trọn lành mà chịu khốn khổ dưới quyền hành của quỷ vương giày đạp. Nên Người quyết quy Tam Giáo, hiệp Ngũ Chi dựng nên một nền chánh pháp, đem tất cả các mối đạo xưa ([12]) về một để duy nhất tín ngưỡng,([13]) chung một con đường hồi hướng,([14]) giúp đỡ lẫn nhau cởi mở trái oan khổ nạn bởi vô minh ([15]) tội lỗi ở lòng chúng sanh gây kết thành cộng nghiệp,([16]) mà nhẹ bước đường lành,([17]) thung dung tháng ngày không dính một gợn não phiền, không để một chướng ngại lo âu mà chúng sanh phải thối lòng bồ đề,([18]) thối duyên bồ tát.([19]) Cõi thế gian không còn các mối cạnh tranh, giành xé, sát hại lẫn nhau, đều được một tổ chức hoàn bị ([20]) để tương trợ liên quan mà trưởng thành ([21]) một cuộc sống thanh bình, đạo đức, rất nên tốt đẹp.
Muốn tới một cuộc đời trang nghiêm thanh tịnh như vậy, Người bèn quy lương sanh,([22]) vầy ([23]) một thánh thể, mà hình hiện ([24]) một pháp môn rộng lớn để chứng tỏ Tạo Hóa vạn vật đồng thể đồng tánh, chân lý trong trời đất không phân biệt đây đó gần xa. Ai cũng là một tế bào ([25]) trong cơ nhục ([26]) của thánh hình ([27]) Đại Đạo, đồng đẳng ([28]) trên dưới trong ngoài. Kẻ thiện tri thức,([29]) đám quần dân ([30]) kết nên một guồng máy, điều hòa trợ trưởng cho nhau.([31]) Dù ở chỗ trong chỗ ngoài cũng có một trọng trách ([32]) làm chủ tướng([33]) cơ vệ ([34]) trấn an ([35]) cho khu thể.([36])
Mục đích cứu chuộc ([37]) Lần Ba ([38]) là thế. Phải làm cho bốn biển chung nhà, năm châu chung chợ, vạn vật chung sống trong bầu Tạo Hóa tự do, giải thoát tất thảy nghiệp trái ([39]) oan khiên ([40]) cho người đời, về phần xác lẫn phần hồn rất nên thanh khiết, trọn vẹn.
Muốn đi đến ngày cứu cánh ([41]) viên mãn ([42]) cho chúng sanh, công cuộc thiết lập Đại Đạo không phải một sớm một chiều mà phải xây đắp nhiều công phu bởi nhiều bàn tay chúng sanh giác ngộ theo một quyền pháp tận độ ([43]) của buổi Tam Kỳ. Quyền pháp ấy là hồng ân của cơ cứu chuộc. Người ([44]) đã đem từ trời mà đến làm con thuyền bát nhã đưa chúng sanh nơi bến tục tận đến bờ giác để thoát cơ tự diệt, hưởng cảnh thung dung. Chúng sanh phải lấy công cán ([45]) tâm linh của mình làm giá chuộc. Giá chuộc ấy bằng sự ăn năn và lòng hồi hướng thì mới được nối liền mối thông công([46]) để cho điển lực nơi Trời chuyển nhập vào lòng, vẹt u ám, giúp tri năng,([47]) thêm sức mạnh cho chúng sanh chiến thắng quỷ vương, ca khúc thái bình quang vinh hạnh phúc.
Nên loài người muốn được dưới sự che chở của bàn tay quyền năng ([48]) là phải lập giao ước ([49]) cùng Trời, làm cho Trời người trở nên đồng nhất.([50]) Đã đồng nhất thì việc của Trời làm hôm nay là việc của người. Người ([51]) phải thấy cái trọng trách sứ mạng ở nơi mình. Mình với Trời cùng một chương trình cải tạo thế gian. Nhận thức ([52]) được điều ấy, thấy rõ một tương lai sứ mạng mà gắng lòng lo tu, để lòng thờ kỉnh. Đã được danh dự đứng trong hàng ngũ về phía của Thầy, cùng trong một bữa tiệc,([53]) được dự vào những ghế mà Đức Cha Trời dành cho, thì không phải ơn phước sao được trở nên danh dự đó?
Ơn phước trong buổi Tam Kỳ, Thầy lại dung hòa ([54]) cả kim cổ lẫn Đông Tây, quy hiệp các tôn giáo, học phái ([55]) để chiết trung([56]) làm một khối. Khối ấy gọi là hoàn linh đơn ([57]) cứu chuộc vạn linh, nên phải bỏ nhiều công phu nấu luyện mới thành. Trước hết phải theo một phương thang ([58]) mà bào chế. Phương thang ấy từ trời đất mới có ([59]) đã cứu được không biết bao nhiêu chúng sanh trong các thời đại. Tam Giáo Thánh Nhơn ([60]) đã trao cho thế gian, mà thế gian được hòa bình, chúng sanh chứng thành không biết bao nhiêu trên cảnh Niết Bàn. Về cá nhân thì Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt, ba báu đồng cân.([61]) Về đạo pháp [thì] ([62]) Lý, Khí, Hình một thể độc nhất, tạo hóa muôn loài. Nên xây dựng thánh hình là phải đủ tam thể làm nhứt nguyên, đạo đời hiệp một, mà con đường xuất thế huờn nguyên phải dựa vào cơ nhập thế bồi công. Mà nhập thế xây thế đạo, xuất thế dựng thiên đạo ([63]) cũng không ngoài ba báu là tôn giáo, khoa học, chính trị làm một để nuôi phần xác, dưỡng phần hồn, mở căn trí, giúp cơ năng, làm chương trình cho tinh thần vật chất hay duy vật duy linh, không ngoài định luật duy nhất.
Muốn thuốc ấy được toàn linh toàn hiệu, người chưng sái([64]) phải để mắt trông nom, cân lượng phải nhích cho đúng độ, không được báu nầy nhiều, báu kia ít, món này sống, món nọ già. Nếu kẻ làm bướng hốt càn,([65]) thì bịnh đời sao dứt mà còn có sự hiểm nguy.
Về đạo pháp cũng thế. Người cầm cân nảy mực ([66]) phải đúng đắn phân minh, mà sự ủy thác trông nom ([67]) nếu bê tha nhác nhớm để cho vỡ lở tai hại thì tội ấy đâu vừa.
Hôm nay nền Đạo vừa khai chưa được bao năm,([68]) các đệ cũng thấy quyền pháp của Chí Tôn trên mục đích cứu cánh cho bốn biển nhơn sanh. Mặc dù các tôn giáo, học phái chưa về một mà đường lối của Đạo ta được dung hòa rất nên bình đẳng, bác ái. Đường lối ấy dù phải [bị] hoàn cảnh kềm hãm, thói đời ganh ghét nó cũng thành công thực sự. Thành công là loài người hiện nay đang tìm lại con đường nầy, con đường yên ổn hòa bình, cả yêu thương và lẽ sống lành mạnh. Đường duy nhất thế gian là con đường dung hòa duy nhất. Dù ai chạy ngõ nào, đi lối nào cũng quay về đây mới bình yên, bền vững. Dù là kẻ nghịch, kẻ giết hại đạo, cũng có ngày ăn năn, có ngày làm tiên phong đi đầu trong sự truyền đạo.([69]) Nhưng tại sao [đã có] đường lối ấy [mà] bây giờ trong nội bộ lại phải chia rẽ nhau, thù nghịch nhau? Điều ấy ai biết được. Chỉ có đức tin mới thấy mà thôi.
Quyền Trời không dễ trái, pháp đạo mấy ai qua. Đó cũng kế của quỷ vương mà kế ấy quyền Trời đồng ý cho nó.([70]) Bởi nó đã muốn vậy, tưởng là đắc kế mà nào hay là bị kế. Nên người có trách nhiệm đã biết quyền Trời lãnh đạo, thì sao còn mơ hồ, sao còn phân vân ([71]) nghi ngại? Ở đây, hay ở nơi nào, sứ mạng đặt vào đâu, chương trình để ở đâu thì người nơi đó cứ tận tâm mà thi hành nhiệm vụ. Làm sao ta biết được việc của Trời? ([72])
Vì vậy Lão khuyên chư vị bảo pháp ([73]) thông suốt lòng mình để lòng được tiếp trọn ơn điển, đừng cho chướng ngại lấp ngăn.
(. . .)
Thôi, Lão chào chư đệ.


([1]) Đông độ 東土 (the Eastern land, i.e., Vietnam): Cõi đất phương Đông, ám chỉ Việt Nam.
([2]) phương (location, region): Nơi chốn, khu vực.
([3]) Cha chung (the common Father, i.e., God): Cha chung của mọi người, tức là Thượng Đế. Đức Chí Tôn dạy: Thầy là Cha Cả của Đông Tây. (Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài Giáo Việt Nam, 04-3-1977).
([4]) chư sĩ 諸士: Từ xưng hô trang trọng (ngôi thứ hai) để gọi những người có phẩm hạnh, có học vấn, hoặc đang tu học.
([5]) hồi tỉnh 回醒 (waking up from misconception): Tỉnh ngộ, không còn mê muội nữa.
([6]) tổ nghiệp 祖業 (the career inherited from ancestors): Sự nghiệp do tiền nhân truyền lại. Tổ nghiệp hoàn thành phải gắng công: Muốn hoàn thành tổ nghiệp thì lớp người kế thừa phải cố gắng.
([7]) Thiên ân (the recipient of Heaven’s blessing): Người thọ nhận ơn Trời. chư Thiên ân: Từ xưng hô trang trọng (ngôi thứ hai) để gọi những vị đang nhận trách nhiệm hoằng giáo.
([8]) nhận thấu (thoroughly recognising sth): Nhận thức thấu suốt.
([9]) Mượn các chữ in đậm tạm đặt nhan đề cho bài thánh giáo này. sứ mạng 使命 (mission): Lệnh sai phái và phải làm xong. đại xá 大赦 (amnesty, general pardon): Tha hết những người phạm tội.
([10]) Người: Đức Chí Tôn.
([11]) thánh thể 聖體 (holy body): Thánh thể của Đức Chí Tôn tại thế gồm Bát Quái Đài, Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài. Thánh thể là các thánh thất (hay thánh tịnh), Tòa Thánh, Hội Thánh.
([12]) các mối đạo xưa (chư cựu giáo 諸舊教: old religions founded in the First and the Second Universalism): Các tôn giáo ra đời trong Nhất Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ.
([13]) duy nhất tín ngưỡng 唯一信仰 (gathering beliefs into one): Gom các tín ngưỡng lại làm một. Duy nhất dùng như động từ.
([14]) hồi hướng 回向 (transferring one’s merits to another place or person): Đem công đức của mình mà hướng về nơi khác, người khác. Hồi hướng là thuật ngữ đạo Phật.
Tuy nhiên, trong cụm từ chung một con đường hồi hướng, cũng như lòng hồi hướng ở đoạn dưới, thì hồi hướng có lẽ là nói tắt thành ngữ hồi đầu hướng thiện 回頭向善 (turning back to the good, i.e., being awakened and interested in self-cultivation), nghĩa là tỉnh ngộ mà quay về đường chánh lẽ phải, thức tỉnh mà lo tu sửa bản thân.
([15]) vô minh 無明 (ignorant): Ngu dốt, tối tăm, không hiểu biết.
([16]) cộng nghiệp 共業 (collective karma): Nghiệp xấu mà cả một tập thể phải cùng nhau chung chịu trả quả.
([17]) nhẹ bước đường lành (stepping lightly on the good path): Bước theo đường tu suôn sẻ vì không bị nghiệp báo cản trở.
([18]) lòng bồ đề (bồ đề tâm 菩提心: bodhi mind): Tâm giác ngộ, thức tỉnh trước những giả cảnh, ảo ảnh thế gian và có chí hướng bước vào đường tu hành. thối lòng bồ đề (discouraging one’s bodhi mind): Ngả lòng nhụt chí, không còn muốn theo đường tu hành nữa.
([19]) Bồ Tát 菩薩: Nói đầy đủ là Bồ Đề Tát Đóa 菩提薩埵 (Bodhisattva), dịch nghĩa là Ðại Sĩ 大士. Bồ Tát là bậc tu hành đã đắc quả Phật nhưng lập đại nguyện không nhập Niết Bàn vì còn vào đời cứu độ chúng sinh đang trầm luân, chưa giác ngộ. Bồ Tát sẵn sàng nhận lãnh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh.
Trong thánh giáo này, bồ tát là người tu hành có lòng muốn cứu độ tất cả chúng sanh. Tu theo đạo Cao Đài, hằng ngày cúng tứ thời với câu nguyện [Nam] nhì nguyện phổ độ chúng sanh tức là đã hứa với Trời thực hành hạnh nguyện của các vị Bồ Tát.
Trong câu thánh giáo trên đây, duyên có nghĩa là cơ hội (opportunity). Khi tu theo Cao Đài (như vừa nói trên) thì có cơ hội phổ độ chúng sanh, có cơ hội thực hành hạnh bồ tát (duyên bồ tát). Ngoài ra, trong Kỳ Ba đại ân xá, Đức Chí Tôn và hằng hà sa số các Đấng thiêng liêng cũng đang làm hạnh bồ tát, luôn đưa tay chờ cứu vớt chúng sanh, chỉ đợi mong chúng sanh thức tỉnh mà vói tay nắm lấy các Đấng, như lời Đức Chí Tôn dạy (tại Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Cao Đài Giáo Việt Nam, 10-02-1975): “Thầy đã đưa tay đến với các con, các con phải đưa tay tới với Thầy. Thầy sẽ dìu dắt các con đến gần Thầy và trở về cùng Thầy. Thầy cùng các con là một, sống trong lẽ thiên nhiên, trong mùa xuân vĩnh cửu.” Đó là cơ hội cho chúng sanh nhận được ơn cứu độ của các bồ tát (duyên bồ tát). Nhưng, khi chúng sanh thối lòng bồ đề, rời bỏ đường tu, thì bản thân không còn cơ hội thực hành hạnh bồ tát, và cũng không còn cơ hội đón nhận ơn cứu độ của các vị Bồ Tát sẵn dành; như thế tức là đã thối duyên bồ tát. Do đó, thối lòng bồ đề thối duyên bồ tát đi kèm nhau.
([20]) hoàn bị 完備 (faultless, complete, perfect): Không khuyết điểm, đầy đủ, hoàn hảo.
([21]) trưởng thành 長成 (developing into): Phát triển thành.
([22]) quy lương sanh 歸良生 (gathering good people together): Gom lại những người tốt lành.
([23]) vầy (establishing): Gầy dựng.
([24]) hình hiện 形現 (manifesting, displaying): Phô bày cho thấy rõ.
([25]) tế bào 細胞 (cell): Đơn vị cơ sở (phần tử cốt yếu) cấu tạo nên một cơ thể, một tổ chức.
([26]) cơ nhục 肌肉 (flesh): Thịt. nhục đồng nghĩa.
([27]) thánh hình 聖形 (holy form): Thánh thể 聖體 (holy body).
([28]) đồng đẳng 同等 (coequal): Có giá trị, thứ bậc, tầm quan trọng, v.v… ngang nhau
([29]) thiện tri thức 善知識 (a good friend for one’s self-cultivation): Cũng gọi là thiện hữu (善友: bạn lành), đạo hữu (道友: bạn đạo). Thiện tri thức là thuật ngữ đạo Phật, để gọi một người bạn đạo có thể giúp mình tu học siêng năng và tiến bộ (tinh tấn).
([30]) quần dân 群民 (citizens): Cũng như chúng dân 眾民 (dân chúng, người dân của một nước).
([31]) trợ trưởng cho nhau (helping one another develop): Giúp nhau phát triển.
([32]) trọng trách 重責 (heavy responsibility): Trách nhiệm nặng nề.
([33]) chủ tướng 主將 (commander-in-chief; key figure): Vị tướng tổng chỉ huy; (nghĩa bóng) nhân vật chủ chốt.
([34]) cơ vệ 肌衛 (muscle guarding): Sự bảo vệ cơ (bắp thịt).
([35]) trấn an 鎮安 (keeping safety): Giữ cho yên ổn.
([36]) khu thể 軀體 (body): Thân thể, cơ thể. Khu thể đồng nghĩa.
([37]) cứu chuộc (cứu thục : redeeming, redemption): Cứu là cứu nguy, cứu thoát (rescuing, saving). Chuộc (từ thuần Việt, chữ Nho là thục ) nghĩa là đem một món gì ra đánh đổi một hình phạt (lấy công chuộc tội; chữ Nho là tương công thục tội 將功贖罪: redeeming one’s crime[s] by meritorious acts). Trong Nhị Kỳ Phổ Độ, cơ cứu chuộc mở ra khi Đức Giê-su hy sinh trên thập giá, lấy mạng sống của Chúa làm giá chuộc (thục giá 贖價: ransom) cho tội lỗi chúng sinh (xem Mát-thêu 20:28 và Mác-cô 10:45). Trong Tam Kỳ Phổ Độ, cơ cứu chuộc mở ra khi Đức Chí Tôn (Thầy) phế Bạch Ngọc Kinh xuống trần mở đạo Cao Đài với đại nguyện trước Công Đồng Tam Giáo rằng lập Đạo không thành thì Thầy không trở về ngôi vị cũ. Cứu chuộcgiá chuộc là thuật ngữ đạo Chúa.
([38]) Lần Ba: Tam Kỳ (Phổ Độ).
([39]) nghiệp trái 業債 (karmic debts): Nợ nần (trái) kiếp này phải trả, vì kiếp trước gây nghiệp xấu (bad karma).
([40]) oan khiên 冤牽 (predestined enemy; injustice leading to sin): Oan nghiệp 冤業, oan nghiệt 冤孽, những nợ nần, thù oán từ kiếp trước, sang kiếp này chúng đòi người mắc nợ phải trả; những điều ngang trái dẫn dắt đến chỗ tội lỗi).
([41]) cứu cánh 究竟 (saving humans from samsara): Người Hoa dịch ba la mật đa 波羅蜜多 (paramita) sang chữ Hán là đáo bỉ ngạn 到彼岸 (sang bờ bên kia, qua bờ giác), cũng dịch là cứu cánh. Thế nên cứu cánh còn có nghĩa là cứu độ, cứu rỗi, giải thoát luân hồi sanh tử.
([42]) viên mãn 圓滿 (perfect): Vẹn toàn, trọn vẹn, đầy đủ.
([43]) tận độ (saving all): Cứu độ hết tất cả.
([44]) Người: Đức Chí Tôn.
([45]) công cán 公幹 (result of hard work): Kết quả của công việc khó nhọc.
([46]) thông công 通功 (communion; communicating with): Liên lạc, tiếp xúc (các Đấng thiêng liêng). Thông công là thuật ngữ đạo Chúa. Xem: Huệ Khải, Sơ Khảo Thuật Ngữ Đạo Chúa Trong Đạo Cao Đài (Hà Nội: Nxb Hồng Đức 2019, tr. 75-80).
([47]) tri năng 知能 (ability to understand sth): Khả năng (năng lực) hiểu biết.
([48]) bàn tay quyền năng (hands of power): Bàn tay của Đức Thượng Đế Chí Tôn.
([49]) giao ước 交約 (testament, covenant, contract, agreement): Những quy định (cam kết) về quyền lợi và trách nhiệm giữa hai bên để hai bên căn cứ theo đó thực hiện. Giao ước cũng là minh ước 盟約.
([50]) đồng nhất 同一 (identical, same): Giống nhau, không khác.
([51]) người (man): Con người, loài người.
([52]) nhận thức 認識 (recognising): Biết rõ ràng, chắc chắn.
([53]) bữa tiệc (yến tịch 宴席: feast, banquet): Bữa tiệc là thuật ngữ đạo Chúa. Bữa tic là lúc con người gác li mi vic bận rộn để cùng ngi bên nhau, vui v ăn ung vi nhau, san sẻ tình cảm.
Kinh Thánh din t sự hip thông, gn bó giữa Thiên Chúa và con người qua dụ ngôn ba tic. Như I-sai-a 25:6 diễn tả (dịch theo New International Version): Trên núi này, Đức Chúa Toàn Năng sẽ dọn cho muôn dân một bữa tiệc thịnh soạn, một bữa tiệc có rượu lâu năm, có các thứ thịt ngon nhất và các loại rượu tốt nhất. / On this mountain the Lord Almighty will prepare a feast of rich food for all peoples, a banquet of aged wine - the best of meats and the finest of wines. Đó là bữa tic ca ngày sau rốt (cánh chung 竟終), là ngày mà con người được hưởng ơn cứu độ viên mãn. Và kể từ ngày đó trở đi, con người được sng vui, hưởng hnh phúc và an bình mãi mãi trong Thiên Chúa.
Nước Thiên Chúa (Nước Trời) thường được ví như bữa tiệc, và Đức Giê-su mời mọi người hãy đến dự tiệc với Chúa, nhưng phần đông người đời lại chối từ, vì họ không biết điều này: Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa! / Blessed is the one who will eat at the feast in the kingdom of God! (Lu-ca 14:15)
Trong thánh giáo Đức Đông Phương Lão Tổ, bữa tiệc vừa mang ý nghĩa con người được hiệp nhất với Thượng Đế, vừa có nghĩa là vinh dự tột cùng, là phần thưởng Trời ban cho người đã chu toàn sứ mạng Trời giao phó trong công cuộc cứu độ Kỳ Ba.
([54]) dung hòa 容和: Nhân nhượng lẫn nhau về các điểm trái nghịch để đạt được những điểm chung, không còn đối lập nhau nữa.
([55]) học phái 學派 (school): Trường phái (môn phái) học thuật, gồm những nhà có chung chủ trương, ý kiến, đường hướng về một lãnh vực như triết học, kinh tế học, v.v...
([56]) chiết trung 折中/折衷 (eclectically deriving the best from excessive or inadequate elements): Lọc lấy những gì tốt nhất từ những yếu tố thái quá hay bất túc.
([57]) hoàn (pill): Viên thuốc. linh đơn 靈丹 (efficacious medicine): Thuốc vô cùng hiệu nghiệm.
([58]) phương (prescription): Đơn (toa) thuốc trị bệnh. thang (decoction): Thuốc đã sắc xong sau khi nấu các dược thảo 藥草 (medicinal herbs). phương thang 方湯 (prescription): Hiểu như phương, là đơn thuốc.
([59]) từ trời đất mới có (since the creation of heaven and earth): Từ khi mới có trời đất (vũ trụ).
([60]) Tam Giáo Thánh Nhơn 三教聖人 (the Three-Teaching Holy Ones, i.e., Confucius, Laozi, and Shakyamuni): Tức là Đức Khổng Tử (Nho), Đức Lão Tử (Tiên), và Đức Thích Ca Mâu Ni (Phật).
([61]) đồng cân 同斤: Nói đủ là đồng cân đồng lượng 同斤同兩 (of the same weight, strength, or importance), tức là cùng trọng lượng như nhau, ngang sức với nhau, quan trọng như nhau, không bên nào trội hơn hay kém hơn bên nào.
([62]) Chữ trong dấu [. . .] là do chúng tôi thêm vào.
([63]) thiên đạo 天道 (the heavenly way): Con đường nội tu (tịnh luyện) để giải thoát luân hồi sanh tử (the way of inner self-cultivation to get free from samsara), cũng gọi thiên đạo đại thừa, thiên đạo giải thoát.
([64]) chưng sái 蒸晒 (steaming sth and drying it in the sun): Hấp và phơi khô.
([65]) hốt càn: Hốt thuốc bừa bãi, không đúng theo y thuật.
([66]) cầm cân nảy mực (using a marking cord; executing rules and regulations): Thành ngữ này ra đời từ công việc của thợ mộc khi cần xẻ gỗ theo đường thẳng tắp. Người thợ dùng một sợi dây tẩm mực (thằng mặc 繩墨; thằng trực 繩直: line marker; marking cord; plumb-line) căng thẳng trên phần gỗ muốn xẻ bằng cách buộc một đầu dây vào quả cân để cố định đúng vị trí, và bàn tay người thợ giữ chặt đầu dây còn lại. Sau khi ướm thử sợi dây căng thẳng đã ăn khớp theo đường xẻ mong muốn, người thợ lấy ngón tay bật cho sợi dây nảy lên rồi dội xuống vài lần, in lằn mực lên mặt gỗ. Sau đó, người thợ sẽ cưa theo lằn mực.
Thành ngữ này dùng để nói về trách nhiệm và lương tâm của những người có chức phận phán đoán, xét xử; tức là họ phải công bằng, trung thực. Vì vậy, Đức Đông Phương Lão Tổ mượn thành ngữ này để dạy các vị Minh Tra hãy biết hành xử đúng đắn phận sự bảo pháp tại các họ đạo.
([67]) sự ủy thác trông nom: Hội Thánh ủy thác (chánh thức giao phó) cho Minh Tra trông nom việc bảo pháp ở từng họ đạo.
([68]) nền Đạo vừa khai chưa được bao năm: Đạo khai tháng 11-1926; Đức Đông Phương Lão Tổ dạy bài này vào tháng 02-1959, tức là Đạo chưa được ba mươi ba năm.
([69]) Dù là kẻ nghịch, kẻ giết hại đạo, cũng có ngày ăn năn, có ngày làm tiên phong đi đầu trong sự truyền đạo:
Vua A Xà Thế 阿闍世 (Ajatashatru) cai trị nước Ma Kiệt Đà 摩竭陀 (Magadha) từ năm 492 đến năm 460 trước Công Nguyên. Ông âm mưu cùng Đề Bà Đạt Đa 提婆達多 (Devadatta) ám hại Đức Phật, nhưng thất bại. Cuối cùng ông quy y theo Phật và hết lòng ủng hộ đạo Phật.
Phao-lô (Paul) ban đầu kiên trì săn đuổi ráo riết các Ki-tô hữu để giết hại họ, nhưng rốt cuộc ông sám hối, theo Đạo Chúa và trở thành Thánh tông đồ.
([70]) quyền Trời đồng ý cho nó: Đức Chí Tôn dạy: “Còn phẩm trt quỷ v cũng như thế y. Nó cũng noi chước Thiên Cung mà lp thành quỷ v, cũng đủ các ngôi các phm, đặng đày đọa các con, hành hài các con, x tr các con. Cái quyn hành ln lao y do Thầy ban cho nó, nên đặng quyn cám d các con, xúi biu các con, giành git các con mà làm tay chơn bộ h trong vòng tôi t. / Thầy đã thường nói: Hai đầu cân không song bng thì tiếng cân chưa đúng lý. Luật công bình thiêng liêng buc phi vy.” (Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, quyển I, đàn ngày 19-12-1926.)
([71]) phân vân 紛紜 (bewildered and unable to make a decision): Hoang mang, rối trí, không thể quyết định.
([72]) Làm sao ta biết được việc của Trời? (How can we know God's plan?): Việc của Trời chỉ có Trời biết; do đó Đức Chúa Trời dạy: “Vì chính Ta biết các kế hoạch Ta dành cho các ngươi… / For I know the plans I have for you…” (Giê-rê-mi-a 29:11) Vì vậy, sứ mạng đặt vào đâu, chương trình để ở đâu thì người nơi đó cứ tận tâm mà thi hành nhiệm vụ. Đây cũng là hàm ý trong lời dạy của Đức Lý Đại Tiên Trưởng: “Việc Trời, Trời liệu; việc người, người lo.” (Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý Đại Đạo, 26-01-1988)
([73]) chư vị bảo pháp (those who conserve the dharma): Tức là “chư phận sự trong bộ máy Minh Tra” như Đức Lão Tổ dạy rõ khi mở đầu bài thánh giáo này. Ở mỗi họ đạo của Hội Thánh Truyền Giáo Cao Đài có một vị Minh Tra giữ nhiệm vụ bảo pháp. Đừng nhầm với vị Bảo Pháp 保法 (the Dharma Conservator) trong Thập Nhị Thời Quân thuộc Hiệp Thiên Đài.
Huệ Khải chú thích
Lê Anh Minh hiệu đính
Hà Nội: Nxb Hồng Đức 2020