Thứ Ba, 29 tháng 12, 2020

19. NẾU TUỔI XUÂN ƯNG NẾM MÙI ĐỜI, ĐỪNG ĐEO LÒNG LÀM TIÊN LÀM PHẬT / Tìm Hiểu Thánh Truyền Trung Hưng - Năm Canh Tý (1960)

 

19. NẾU TUỔI XUÂN ƯNG NẾM MÙI ĐỜI, ĐỪNG ĐEO LÒNG LÀM TIÊN LÀM PHẬT

Tu xá Phước Huệ Đàn (Tam Kỳ, Quảng Nam)

ngày 10-9 Canh Tý (Thứ Bảy 29-10-1960)

THI

TRỊNH trọng xin thưa quý đạo tràng

THỊ thành lui bước lánh bi quan

THANH bần chiều sớm vui mùi đạo

Mừng thấy hồng ân, thấy nhẹ nhàng.

Được lệnh Từ Tôn Phật Mẫu, Hộ Pháp Bảo Nương, tệ muội kính cẩn chào mừng quý liệt vị Thiên ân, chào quý đạo tỷ và chị em thân mến.

Từ khi tách bước đường đời về chầu Phật Mẫu, được hồng ân hộ khắp đàn trung, nhìn lại chị em lúc nọ mà buồn buồn cho phận liễu bồ.([1]) Chị em ta dù được quyền pháp sớm chở che cũng chưa thoát thường tình nhi nữ.([2]) Dù được duyên chung trong lẽ sống hồi sinh mà lòng giác ngộ chưa mấy người dứt xong nợ thế. Nếu bây giờ chị em ta còn trù trừ dụ dự, thì nước ngược khó quày. Một thuở hồng ân chẳng gắng, muôn đời ân hận, lầm than.([3])

Chị em ôi! Lúc ta chưa tu đâu thấy nhọc nhằn. Mặc tình buông lái thả chèo, trôi theo dòng nước chảy xuôi, coi cách nhẹ nhàng phơi phới. Đến khi ngó lại bến cũ xa mù, mới trở quày thuyền lại. Trở quày thuyền lại thì gặp phải nước ngược gió nà.([4]) Chị em ta cố gắng, cố gắng quá nhiều; nhưng vì đi ngược nên thấy quá chừng lâu lắc. Lâu mặc kệ lâu, lòng ta đã quyết. Có quyết mới thành công. Có mệt nhọc vì xé nước rạch chằm ([5]) mới mong trèo qua gành thác.

Chị em ôi! Ta đã buông xuôi thuyền lòng, trôi xuôi theo dòng đời quá sức xa rồi, nên khi quày trở lại phải chịu lắm ngày khó nhọc. Bây giờ ta phải gắng lên, gắng lên thêm nữa cho nhiều. Nếu lười nhác để liều, còn trụt lùi cho tới âm ty mù mịt.

Tệ muội đây số kiếp có chừng, nên bước tu có ít, công trình tu học chẳng bao nhiêu. Bao phen quỳ dưới Diêu Tòa, tệ muội xin xuống trần gian bồi đắp lấy công phu, công quả; nhưng Mẹ Từ Tôn e sợ buổi thế mãn,([6]) nghiệt quả ([7]) nhiều, nếu một bước hớ hênh khó mong ngày trở lại, nên lòng tệ muội đây nửa quyết nửa không. Quyết, là vì nghĩ uổng một dịp hồng ân mở đường giáo hóa. Dịp này nếu tu ắt được đứng trong cửu phẩm liên đài.([8]) Không, là vì sợ mang lấy xác phàm, tình thức đa đoan ([9]) phải sa đắm, hồn chôn trong ngũ trược ([10]) thì bao giờ trở lại vị cũ ([11]) quê xưa. Nên tệ muội nương sức oai thần, dùng điển lực vô vi để hộ phò chư tu sĩ, ít nhiều cũng được chút công.

Tệ muội thấy hữu hạnh nhứt là chị em có đủ các tiện nghi giải thoát, thế mà chị em còn trông đó ngó đây. Chừng đến khi hoàn cảnh đổi thay, trào lưu xoay ngược, thì một thân nô lệ cho muôn người, không khéo rồi phạm đến luật hình, phải chịu trong vòng tên bay đạn lạc. Vậy phải gắng cho nhiều.

Nay tình chị em, không có gì để gọi chút nghĩa tri âm, nên xin có mấy lời tặng dâng để kỷ niệm.

Xin cảm tạ lòng từ bi dìu dắt của chư đại đức cao huynh. Chơn thành kính viếng quý chú, quý cô và quê hương họ đạo.

Thôi chư đạo tâm đón chị Bảo Thọ Thánh Nương.

Tệ muội xuất cơ chầu dạy.

TIẾP ĐIỂN

Chào chư Thiên ân đại đức, chư đạo tâm hiền nữ.

THI

BẢO bảo khuyên nhau đã lắm rồi

THỌ trì pháp đạo chớ buông trôi

THÁNH phàm bởi tại nơi mình chọn

NƯƠNG ở hồng ân mới vững ngồi.

Cười... Quý chị em biết nói gì đó không? Hôm nay chị em có lòng nghĩ đến Bản Nương, cùng về chung vui trong ngày lễ kỷ niệm.([12]) Bản Nương không có gì đáp lại thạnh tình ([13]) quý báu kia, chỉ nguyện mãi mãi cho đến bao giờ cũng hộ phò con đường tu của chị em tận khi được trở về với Mẹ.

Chị em ôi! Cơ khảo thí quá tinh vi. Một lần làm cho lòng ta ngẩn ngơ, ngao ngán sự quá khó khăn. Khó khăn này sức người không giải quyết được thì rồi nhiều lần nữa mới liệu làm sao?

Ôi! Nó quá tinh vi tế nhị, ẩn hiện phi thường. Nếu chị em thiếu dạ kỉnh thành, thiếu lòng thanh tịnh, nó có thể đẩy hất chị em ra ngoài quyền pháp. Bởi vậy mà lòng Bản Nương cứ mãi phập phồng từ phút từ giây.([14]) Chị em không đủ sức chịu đựng khó khăn, đủ óc sáng suốt phân biệt hư nên thì một kiếp dở dang. Ôi thôi, mấy đời gặp lại!

Lòng Bản Nương tuy đã dứt mối tư tâm, ra ngoài phải trái, mà lắm lúc cũng thiếu bình tĩnh đứng vững trước cơ đạo ngửa nghiêng. Trong khi khảo thí, chị em còn vui đây vui đó, đặt nhẹ lòng tu, chưa thấy cái khổ tròng đến nay mai, mà cứ vọng ước việc đâu đâu ngoài phần giải thoát. Chị em còn mơ còn luyến, làm sao bước đạo nhẹ nhàng? Nếu tuổi xuân ưng nếm mùi đời, thì đừng đeo lòng làm Tiên làm Phật.([15]) Mà hễ tu, thì quyết từ đây đoạn hết ái ân danh lợi cho rồi. Lòng có được trống không vắng lặng thì mới cùng Tạo Hóa đồng thân,([16]) mới thấy mầu nhiệm giải thoát.

Vậy Bản Nương khuyên chị em phải dọn sạch lòng mình. Lòng mình dọn sạch thì muôn tật đều không. Đâu còn sợ được sợ thua, thân không lành mạnh.

Hôm nay Bản Nương lấy tư cách người bạn nói cùng chị em. Nếu chị em chẳng giữ đúng pháp quyền, lơ là công phu tu học thì Phước Huệ Đàn thâu lại, chức Bảo Thọ xin về. Đừng nói quyền uy quá lẽ.([17]) Hễ tu, trên hết là Tôn Sư, ngoài ra là công phu, công quả. Không có hai thầy.([18]) Nếu muốn có đó có đây thì quyền pháp lẽ đâu không minh định.([19]) Vậy từ nay, mọi việc thanh tịnh, giữ dạ hy sinh, chờ Tôn Sư phán định.

Việc cơ sở cũng chuẩn bị một nơi nào vừa thánh ý vừa nhơn tâm mới tụ được pháp quyền mà an xử. Vì ngày giờ tai biến xảy ra, chư chị em thiếu đức, thiếu quyền phải nương cậy hồng oai ([20]) che chở. Mọi việc chờ đông chí mới quyết định cho tổ chức. Chị em nương cậy Hội Thánh, nương ở quyền pháp mà tu. Ma có khảo, đạo mới thành.([21]) Khảo có lắm, có Bản Nương chia san ([22]) khó nhọc.

Hôm nay không phải đàn nữ phái, nên về việc an trấn pháp quyền phải chờ một kỳ khác. Bản Nương chỉ mong chư lễ sanh làm hết bổn phận mình, giúp đỡ chị em trong họ đạo một hướng tu hành. Phần yếu trọng cho bản thân là năng cúng sám, công phu, để lòng thanh tịnh.

Về Nữ Đoàn,([23]) đâu đó chị em toan liệu cùng lo. Đã đặt mình trong giải thoát chớ có hẹp chật riêng tư, mà phải hòa đồng sức sống, chung tay xây đắp Nữ Đoàn. Trì pháp luyện châu tịnh lự mỗi ngày một giờ để lòng mình tươi sống. Mọi việc nói chung phải ước giản,([24]) kiệm cần. Bớt qua lại, phải không.([25]) Đoạn duyên giản sự để cầu thanh tịnh vô vi. Ăn mặc giữ bình thường. Đừng quá khắc khổ hành thân, mà cũng đừng quá lo bề cung phụng. Ráng tu! Chỉ có tu là hơn cả. Tu mới cứu được sứ mạng, mới mong có cơ chỉ ([26]) thành hình, mới thấy một ngày vui đẹp, mới an thân trong lò lửa nguyên tử bùng cháy, mới vững bước đường đời, khỏi sợ ma kéo nghiệp gây, mới chứng thanh tịnh vô vi. Trong tay đủ quyền đủ pháp, ngày thành Tiên Phật chẳng lâu. Nếu lười nhác, lơ là thì họa đến thân không chỗ tránh.

Thôi, xin chào quý liệt vị, chư đạo tâm. Xin hẹn có ngày sẽ bàn thêm nhiều việc. Xin chào. Thăng.



([1]) liễu bồ 柳蒲: Bồ (various monocotyledonous flowering plants including Acorus calamus and Typha orientalis) là cây cói, lác (dùng làm chiếu, giỏ, quạt…). – Liễu (willow) là loại cây có cành dài và thanh mảnh, lá mềm yếu buông rủ xuống. – Liễu bồ, bồ liễu (women, as compared to slender and weakly willow) tức là phụ nữ (vì phần đông họ mảnh mai, yếu ớt như cây bồ, cây liễu).

([2]) thường tình 常情 (common feeling): Tình cảm thông thường ai cũng có. – nhi nữ 兒女 (females): Phụ nữ. – thường tình nhi nữ (nhi nữ thường tình 兒女常情: common feeling of females): Tình cảm thông thường mà phụ nữ nào cũng có.

([3]) lầm than (miserable, wretched): Vất vả, cơ cực, khổ sở.

([4]) gió nà (strong wind): [cổ] Gió mạnh.

([5]) chằm (trạch : pool): Đầm nước.

([6]) thế mãn 世滿 (the world ends): Đời tàn, thế tận 世盡.

([7]) nghiệt quả 孽果 (evil retribution): Quả báo xấu do đã gây tội lỗi.

([8]) cửu phẩm liên đài 九品蓮臺 (the nine grades of the lotus seat): Người đắc đạo khi về cõi trời tùy theo công đức tu hành mà được hưởng ngôi vị (liên đài) tương xứng. Ngôi vị chia ba hạng (thượng, trung, hạ); hạng thượng chia ra thượng thượng, thượng trung, thượng hạ 上上 , 上中 , 上下 (upper superior, middle superior, lower superior); hạng trung chia ra trung thượng, trung trung, trung hạ 中上 , 中中 , 中下 (upper intermediate, middle intermediate, lower intermediate); hạng hạ chia ra hạ thượng, hạ trung, hạ hạ 下上 , 下中 , 下下 (upper inferior, middle inferior, lower inferior); như vậy tổng cộng có chín phẩm bậc. Ghi chú: Thật ra chưa tìm thấy thánh giáo giải thích thuật ngữ chín phẩm liên đài. Trên đây là phỏng theo cách giải thích cửu phẩm liên đài trong Phật Giáo (Tịnh Độ Tông 淨土宗: the Pure-Land Sect).

([9]) đa đoan 多端 (manifold, multifold; fig., intricate): Nhiều mối; nghĩa rộng là rắc rối, phức tạp.

([10]) ngũ trược 五濁 (the five impurities, namely the impurity of kalpa, the impurity of views, the impurity by evil passions, the impurity of sentient beings, the impurity of life): Năm thứ ô trược (dơ bẩn) con người phải chịu: 1/ Kiếp trược 劫濁: Dịch bệnh nổi lên, nạn đói xảy ra, chiến tranh lan tràn; 2/ Kiến trược 見濁: Tà kiến thịnh hành; 3/ Phiền não trược 煩惱濁: Con người nuôi nhiều tham dục, tâm hồn phiền não; 4/ Chúng sanh trược 眾生濁: Con người vô đạo đức, không sợ quả báo; 5/ Mệnh trược 命濁: Con người chết sớm.

([11]) vị cũ (cựu vị 舊位: former position in heaven): Ngôi vị cũ ở trên trời, trước khi xuống trần làm người.

([12]) Đức Bảo Thọ Thánh Nương thế danh Trần Doãn Cơ sinh năm Nhâm Tý (1912), vì bệnh nên quy thiên ngày 09-9 Giáp Thân (Thứ Tư 25-10-1944), hưởng dương ba mươi hai tuổi. Đàn cơ này lập ngày 10-9 Canh Tý (Thứ Bảy 29-10-1960).

([13]) thạnh tình, thịnh tình 盛情 (great kindness): Tấm lòng rất tử tế.

([14]) từ phút từ giây: Từng phút từng giây.

([15]) Mượn các chữ in đậm tạm đặt nhan đề cho bài thánh giáo này.

([16]) đồng thân 同身 (of the same body): Cùng một thể với Tạo Hóa.

([17]) quá lẽ: Quá lắm, quá mức, quá đáng.

([18]) Không có hai thầy (There are no two masters): Câu này chẳng khác lời Chúa Giê-su dạy: Không ai có thể làm tôi hai chủ. / No one can serve two masters. (Mát-thêu 6:24)

([19]) minh định 明定 (clarifying): Xác định rõ.

([20]) hồng oai, hồng uy 洪威 (great power; fig., Heaven’s power): Oai quyền lớn; nghĩa bóng là oai quyền của Trời.

([21]) Có câu: Vô ma khảo bất thành đại đạo. 無魔考不成大道.

([22]) chia san (sharing): Chia sớt, san sẻ.

([23]) Nữ Đoàn Giải Thoát.

([24]) ước giản (giản ước 簡約): Thu xếp cho gọn bớt, khỏi bận bịu.

([25]) phải không: Thị phi 是非, khen chê bàn luận.

([26]) cơ chỉ 基趾 (basis, foundation): Nền móng, căn bản.


HUỆ KHẢI chú thích - LÊ ANH MINH hiệu đính

20. MỖI MỖI HÀNH ĐỘNG PHẢI ĐƯỢC TOÀN BỘ ĐỒNG Ý, NHỨT TRÍ / Tìm Hiểu Thánh Truyền Trung Hưng - Năm Canh Tý (1960)

 

20. MỖI MỖI HÀNH ĐỘNG PHẢI ĐƯỢC TOÀN BỘ ĐỒNG Ý, NHỨT TRÍ

Trung Hưng Bửu Tòa (Đà Nẵng)

ngày 29-9 Canh Tý (Thứ Năm 17-11-1960)

THI

TRẦN triều Tam Giáo thuyết đồng nguyên ([1])

TỔNG hiệp toàn dân giữ mối giềng

LÝ sự phân minh yêu quốc thổ ([2])

GIÁNG ân bố đức diệt quân Nguyên.

Bản Thánh chào chư liệt Thiên ân.

Giờ này để lòng ưu ái quyền pháp an toàn Giáo Hội, Bản Thánh đến cho biết một vài sở do ([3]) để chư Thiên ân toan liệu. Chư vị an tọa.

Không lúc nào khó khăn bằng lúc nầy cả. Mỗi mỗi hành động phải được toàn bộ đồng ý, nhứt trí,([4]) thì khó khăn nào cũng trở thành an ổn. Nói về nhơn sự, mọi việc đã định rồi thì thánh ý cũng chấp chuẩn để tôn trọng quyền pháp Hội Thánh hữu hình. Nhưng xét ra có một vài trở ngại. Nếu hoàn cảnh cho phép và do sự cố gắng của các hiền, may được thành công là điều tốt.

(. . .)

Về đối nội, lúc này nên làm cho nhau có một chủ trương rộng rãi đứng trên một lập trường duy nhất. Cũng như chỉ huy một đoàn quân, tướng tốt ([5]) phải theo mệnh lệnh chủ soái, nhắm vào tiếng trống mà đi, tiếng chiêng mà về, ngó ngọn cờ mà lui tới thì vạn nhứt làm gì không thành công. Nếu lập thuyết vững và hàng ngũ chặt chẽ thì đứng trong cảnh nào cũng yên ổn cả. Rồi phần mình, lo phần bạn. Phải liên kết các chi nhánh trong nội bộ để cùng một sứ mạng hoằng pháp độ sanh. Điều nầy rất nên trọng hệ. Dù muốn dù không, hoàn cảnh buộc phải đến đó.

Về đối ngoại, không đương đầu một việc gì gây hư tệ, hoặc xung phong chịu nhận một phần việc chi mà chung quanh mình chưa có ý kiến, thì được lòng nhau, mà danh nghĩa cũng tỏ rạng. Nghĩa là không cùng với ai, nhưng cả thảy đều cùng thì ta cũng phải cùng, mặc dù điều ấy xa lẽ thật.

Thôi, bao nhiêu việc coi đó mà làm. Thời thế xoay đổi thế nào? Tề nhứt biến; Lỗ nhứt biến.([6]) Tề tam biến chưa thành, Lỗ nhứt biến đạt đạo.([7]) Hiểu nhỉ? Nghĩa là thời cuộc đi tới, Giáo Hội ta cũng vẫn lành mạnh, mà lành mạnh hơn nữa. Việc lợi bất khả độc,([8]) mưu bất khả cộng.([9]) Mặc dù trong hàng Thiên ân, nhưng bậc tu mỗi người chứng một cách.([10]) Các hiền đã cảm thông sự biến của Tề và Lỗ chăng?

Mỗi lần biến của nước Tề mới tiến qua một giai đoạn; một lần biến của nước Lỗ đã vượt mức thời gian. Nghĩa là nước Lỗ là nước đã chịu nhiều giáo dục,([11]) cũng như bên ngoài và bên trong của ta vậy.

(. . .)

Thôi, Bản Thánh kiếu.



([1]) Câu này có nghĩa: Thuyết Tam Giáo đồng nguyên dưới triều nhà Trần. Xem Phụ Đính 1 cuối bài thánh giáo này.

([2]) quốc thổ 國土 (country’s territory): Lãnh thổ quốc gia.

([3]) sở do 所由 (reason, cause): Nguyên do 原由, lý do 理由, duyên do 緣由.

([4]) Mượn các chữ in đậm tạm đặt nhan đề cho bài thánh giáo này.

([5]) tốt (soldier): Binh lính.

([6]) Xem Phụ Đính 2 cuối bài thánh giáo này.

([7]) Lỗ một lần cải cách thì đạt tới nước theo vương đạo; Tề ba lần cải cách cũng chưa thành nước theo vương đạo.

([8]) lợi bất khả độc 利不可獨 (An advantage cannot be enjoyed alone): Điều lợi không thể hưởng riêng mình.

([9]) mưu bất khả cộng 謀不可共 (A plan cannot be made by many people): Khi mưu sự không thể bàn bạc với số đông người để khỏi lộ kế hoạch.

([10]) Ý nói trình độ và tâm đạo so le nhau, lỡ người còn non kém mà lại biết việc quan trọng có thể tiết lộ hết kế hoạch thì hỏng bét.

([11]) Nước Lỗ được thấm nhuần giáo hóa, còn trọng đạo đức, tín nghĩa, nên hễ cải cách thì mau chóng tiến xa hơn nước Tề vốn chưa được giáo hóa nhiều như Lỗ.


HUỆ KHẢI chú thích - LÊ ANH MINH hiệu đính

20b. PHỤ ĐÍNH 1: Tam Giáo đồng nguyên dưới triều Trần / Tìm Hiểu Thánh Truyền Trung Hưng - Năm Canh Tý (1960)

 

PHỤ ĐÍNH 1:

Tam Giáo đồng nguyên dưới triều Trần

Vua Trần Thái Tông (trị vì 1226-1258) tên thật là Trần Cảnh, quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định sau này). Tác phẩm có: Kiến Trung Thường Lễ, Quốc Triều Thông Chế, Khóa Hư Lục, Thiền Tông Chỉ Nam...

Khi viết bài Tựa cho Thiền Tông Chỉ Nam, vua ám chỉ rằng trách nhiệm độ đời của Phật hay Nho vẫn là một: Lục Tổ có nói: “Bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau.” Như thế đủ biết giáo lý của Đức Phật ta lại phải nhờ Tiên Thánh mà truyền lại cho đời.

Trong bài Phổ Khuyến Phát Bồ Đề Tâm, vua viết: Vị minh nhân vọng phân Tam Giáo / Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm. 未明人妄分三教 / 了得底同悟一心.(Chưa ngộ, người lầm phân Tam Giáo / Rõ gốc rồi cùng ngộ một tâm.)

Trong bài Tọa Thiền Luận, vua nêu rõ sự tương đồng của Tam Giáo về pháp môn tu luyện như sau: Thích Ca Văn Phật vào núi Tuyết Sơn [Himalayas: Hy Mã Lạp Sơn], ngồi ngay ngắn trong sáu năm, chim bồ các [chim thước hay chim khách (?)] làm tổ trên đầu, cỏ mọc xuyên qua bắp vế mà thân tâm vẫn bình thản. Tử Kỳ [Đạo Gia, tức Nam Quách Tử Kỳ trong Trang Tử Nam Hoa Kinh] ngồi tựa ghế, thân như cây khô, lòng như tro nguội. Nhan Hồi [Nho Gia] ngồi quên, chân tay rời rã, thông minh dẹp bỏ, lìa xa cả trí cả ngu để hòa chung với Đạo lớn. Ba bậc thánh hiền của Tam Giáo đời xưa đó đều nhờ ngồi định mà có thành tựu.

Trong bài Giới Sát Sinh Văn, vua nêu lên chỗ tương đồng của Tam Giáo về mặt hành thiện: Sách Nho dạy làm điều nhân đức, kinh Lão dạy thương yêu người và vật, Phật chủ trương hãy giữ gìn giới cấm sát sinh… ([1])

 



([1]) Huệ Khải, Tam Giáo Việt Nam – Tiền Đề Tư Tưởng Mở Đạo Cao Đài / The Three Teachings of Vietnam as an Ideological Precondition for the Foundation of Caodaism. Hà Nội: Nxb Tôn Giáo, 2010, 2013, tr. 68-69.


HUỆ KHẢI chú thích - LÊ ANH MINH hiệu đính

20c. PHỤ ĐÍNH 2: Tề nhứt biến; Lỗ nhứt biến. / Tìm Hiểu Thánh Truyền Trung Hưng - Năm Canh Tý (1960)

 

PHỤ ĐÍNH 2:

Tề nhứt biến; Lỗ nhứt biến.

Câu T nht biến; L nht biến ([1]) là nói tắt một câu của Đức Khổng Tử, chép trong Luận Ngữ (6:24). Nguyên văn: T nht biến, chí ư Lỗ; L nht biến, chí ư đạo. 齊一變, 至於 魯; 魯一變, 至於道. Qi, by one change, would come to the state of Lu; Lu, by one change, would come to a state where true principles predominated. – Nước T cải cách mt bc thì đạt tới trình độ nước L; nước L cải cách mt bc thì đạt được trình độ đất nước theo vương đạo 王道 (the way of the king).

Qua đời trước Đức Khổng Tử 164 năm, T Hoàn Công 齊桓公 (715-643 trước Công Nguyên) cai trị nước Tề theo bá đạo 霸道 (the way of the hegemon) nên Tề sớm cường thịnh mà phương diện giáo hóa kém suy. Nước L tuy yếu hơn Tề, nhưng còn trọng l giáo và tín nghĩa; nếu cải cách mt bc thì s tiến rất xa và nhanh hơn Tề. Do đó, Đức Trần Tổng Lý nói thêm: Tề tam biến chưa thành, Lỗ nhứt biến đạt đạo. 齊三 變未成; 魯一變達. (Lỗ một lần cải cách thì đạt tới nước theo vương đạo; Tề ba lần cải cách cũng chưa thành nước theo vương đạo.)



([1]) Biến có nghĩa là cải cách chính trị; cho nên khi Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) làm tể tướng (như thủ tướng ngày nay), tiến hành cải cách chính trị nhà Tống thì đường lối cải cách đó được gọi là biến pháp 變法 (political reform).


HUỆ KHẢI chú thích - LÊ ANH MINH hiệu đính